Trao đổi tìm hiểu về lăng vua Khải Định

Lăng vua Khải Định hay Ứng Lăng thuộc làng Châu Chữ, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

alt

Vua Khải Định (1885- 1925) là con trai trưởng của Vua Đồng Khánh, mẹ là Hựu Thiên Thuần Hoàng Hậu. Ông lên ngôi vào ngày 18/5/1916, là vị vua thứ 12 của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Ông ở ngôi được 10 năm thì lâm trọng bệnh và mất ngày 20/9 năm Ất Sửu tức ngày 6/11/1925 an táng tại Ứng Lăng.

alt

Lăng Khải Định bắt đầu xây dựng vào ngày 4/9/1920 và mất 11 năm để hoàn thành. Lăng Khải Định lại có diện tích 117m x 48.5m. Để xây lăng, Khải Định mua sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise… ở Pháp và ông cho thuyền sang Trung Quốc, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu.

alt

Về tổng thể, lăng Khải Định có hình một khối chữ nhật vươn lên cao 127 bậc cấp, với nhiều trường phái kiến trúc như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique trong các cụm công trình cụ thể: Những trụ cổng hình tháp- ảnh hưởng từ Ấn Độ giáo; Trụ biểu dạng stoupa- của Phật giáo;

alt

Hàng rào như những cây thánh giá; Nhà bia với những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể. Đây cũng là kết quả của sự giao thoa văn hóa Đông- Tây trong buổi giao thời lịch sử và cá tính của Vua Khải Định.

MT

Tham quan Hoàng Thành Huế

Hoàng Thành Huế được xây dựng từ năm 1804 đến năm 1833 đời vua Minh Mạng thì hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng 147 công trình.

alt

Hoàng Thành có mặt bằng gần vuông, mỗi bề khoảng 600 mét, xây bằng gạch, cao 4m, dày 1m, xung quanh có hào bảo vệ, có 4 cửa để ra vào: Cửa chính phía Nam là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Đoàn KTS đã tham quan: Điện Thái Hòa, Triệu Tổ Miếu, Thái Tổ Miếu, Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu,  Cung Trường Sanh, Cung Diên Thọ, Khu vực Tử Cấm Thành;

alt

Tham quan Cửu Đỉnh của nhà Nguyễn là chín cái đỉnh bằng đồng đặt ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu, phía tây nam Hoàng thành Huế, tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm 1835, hoàn thành vào đầu năm 1837. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một vị hoàng đế của triều Nguyễn, có trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc bên ngoài đỉnh cũng khác nhau. 9 đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và Huyền Đỉnh.

Nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành và tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo cùng các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm.

MT

Hành trình về xứ Huế

Ngày 16/11/2018 chuyến máy bay VJ 723 cất cánh từ sân bay Cát Bi- Hải Phòng lúc 6h45p đưa đoàn Hải Phòng đến sân bay Đà Nẵng lúc 7h45p. Chúng tôi lên ôtô 16 chỗ tiếp tục hành trình từ TP Đà Nẵng vượt qua đèo Hải Vân đến cố đô Huế lúc 10h30p. BTC bố trí cho đoàn Hải Phòng nghỉ ở khách sạn 5 sao Imperial số 8 đường Hùng Vương, TP Huế.

alt

Huế là đô thị cấp quốc gia của Việt Nam và từng là kinh đô của Việt Nam thời phong kiến dưới triều nhà Nguyễn (1802 - 1945). Hiện nay, thành phố là trung tâm về nhiều mặt của miền Trung như văn hoá, chính trị, y tế, giáo dục, du lịch, khoa học... Những địa danh nổi bật là sông Hương và những di sản để lại của triều đại phong kiến, Thành phố có năm danh hiệu UNESCO ở Việt Nam: Quần thể Di tích Cố đô Huế (1993), Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Mộc bản triều Nguyễn (2009), Châu bản triều Nguyễn (2014) và Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016). Huế là một trong 3 đô thị lớn nhất Bắc Trung Bộ (cùng với Thành phố Thanh Hóa, Thành phố Vinh) và là một trong những đô thị lớn nhất Việt Nam.

MT

Thiền sư Thích Nhất Hạnh và xứ Huế

Thiền sư Thích Nhất Hạnh sinh năm 1926 tại Thừa Thiên Huế, là nhà văn, nhà thơ, nhà hoạt động xã hội và là nhà sư nổi tiếng của Phật giáo thế giới.

alt

Với những hoạt động không ngừng nghỉ, thiền sư Thích Nhất Hạnh trở thành nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây, chỉ sau Đạt Lai Lạt Ma, theo đánh giá của các hãng tin nước ngoài.

Ngày 26/10/2018, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã từ Làng Mai ở Bangkok, Thái Lan về Đà Nẵng. Đến ngày 28/10/2018, thiền sư về đến chùa Từ Hiếu trong sự chào đón của tăng ni, phật tử ở Huế. Khi về đến chùa, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã vào lễ Phật, lễ Tổ tại chánh điện của chùa, rồi lên nghỉ ngơi tại khu phòng mà Thiền sư đã từng ở lúc mới xuất gia vào tu tại chùa.

Sức khỏe của thiền sư Thích Nhật Hạnh khá tốt, một Ban Thị giả được chùa thành lập để chăm lo việc ăn uống, sinh hoạt hàng ngày của thiền sư. Thiền sư Thích Nhất Hạnh chọn Từ Hiếu là nơi tịnh dưỡng lúc cuối đời bởi đây là ngôi chùa mà thuở thiếu thời thiền sư đã xuất gia học đạo giống như lá rụng về cội vậy.

MT

Trao đổi tìm hiểu về danh tướng Trần Nhật Duật

Trần Nhật Duật (1255- 1330) là hoàng tử thứ 6 của vua Trần Thái Tông, lúc mới sinh, trên tay ông có bốn chữ “Chiêu Văn đồng tử”, nên vua phong cho ông là Chiêu Văn Vương.

alt

Trần Nhật Duật là người hiểu biết rộng, thông thạo nhiều ngoại ngữ. Năm 1280, tù trưởng vùng Đà Giang là Trịnh Giác Mật nổi lên chống triều đình, cùng lúc nhà Nguyên đang chuẩn bị quân tấn công Đại Việt. Trần Nhật Duật chỉ mang theo mấy tiểu đồng đến gặp Giác Mật. Giữa trang trại Giác Mật, ông ăn nói đúng phong tục Đà Giang khiến Giác Mật tâm phục khẩu phục qui hàng theo triều đình. Trần Nhật Duật không cần đánh mà thu phục được cả vùng Đà Giang, khiến biên giới phía Tây Bắc được yên ổn, giúp nhà Trần tập trung lo chuẩn bị đối phó với quân Nguyên.

Nhà Nguyên cử sứ giả đến, Trần Nhật Duật tiếp sứ thần nhà Nguyên bằng tiếng Hán vui vẻ tự nhiên cả ngày. Khi Mông Cổ đánh bại nhà Tống, nhiều tôn thất của nhà Tống chạy sang Đại Việt. Trần Nhật Duật được các tướng lĩnh nhà Tống mến mộ, ông chỉ huy một đội binh mã nhà Tống, lập được nhiều chiến công trong cuộc chiến chống quân Nguyên.

Năm 1314, Trần Nhật Duật làm Tể tướng nước Đại Việt, ngoài việc tề gia trị quốc, ông rất quan tâm đến văn hóa, văn nghệ dân tộc. Năm 1330 đời Trần Hiến Tông, Chiêu Văn Đại vương Nhật Duật qua đời, hưởng thọ 75 tuổi. Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với giai đoạn vinh quang nhất của nhà Trần. Tài năng, đức độ, sự nghiêm minh ngay thẳng của ông cũng như các tướng văn, võ trong thân tộc nhà Trần cùng thế hệ với ông như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải góp phần vào sự tồn tại và hưng thịnh nước Đại Việt thời nhà Trần.

MT

Phó giáo sư người Nhật Bản tặng bức thư cổ cho Bảo tàng Hà Tĩnh

PGS.TS Hasuda Takashi - Nghiên cứu viên Hội Chấn hưng Nhật Bản, Đại học Osaka đã tặng phiên bản bức thư cổ bằng chữ Hán thế kỷ XVII cho Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh do Văn Lý hầu Trần Tịnh (quê ở xã Kim Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh) chấp bút.

alt

Trần Tịnh làm quan trải qua nhiều chức như: Trung hưng Hiệp mưu Tá lý công thần, Tổng thái giám Thượng giám sự Chưởng cung môn thừa chế sự và các tước Văn Lý tử, Văn Lý bá và Văn Lý hầu.

Theo đánh giá của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, ông là người: “Có tước vị tôn quý, nhưng rất khiêm nhường; lộc càng nhiều, thì sống lại càng cần kiệm. Với bề trên thì luôn là hiền nhân, với bạn đồng liêu thì nhường người tài giỏi. Các tướng sĩ trong doanh cơ đều ngợi ca danh tiếng ông”.

Bức thư cổ có nội dung liên quan đến quan hệ ngoại thương giữa Việt Nam và Nhật Bản trên sông Lam, dọc từ thương cảng cổ Hội Thống đến phố cổ Phù Thạch lúc Trần Tịnh đang làm chức quan Đô đường, nha môn đóng ở xã Hoa Viên, huyện Hưng Nguyên, xứ Nghệ An. Ông là người trực tiếp cấp phép cho các tàu buôn Nhật Bản tự do đi lại, buôn bán tại khu vực này.

Bức thư đã ghi lại sự kiện một tàu buôn Nhật Bản đến Nghệ An buôn bán ở khu vực sông Lam, chất đầy người và hàng khi đi qua cửa biển Đan Nhai (Hội Thống) về Nhật Bản thì bị đắm vào tháng 6 năm 1610. Sóng to gió lớn đã làm 6 người trên tàu bị chết, cứu được 105 người, trong số đó Trần Tịnh cưu mang 29 người. Một người phụ nữ Nhật Bản được cứu vớt, ông nhận làm con nuôi và mang họ Trần của ông. Sau đó, ông gả cho một người trong dòng họ Nguyễn Huy – Trường Lưu là Hình bộ Lang trung Nguyễn Như Thạch (1579 -1662).

Sau khi cứu được 105 người Nhật Bản, Trần Tịnh trình sự việc lên chúa Trịnh và được chúa Trịnh cho đóng thuyền đưa họ đi về Nhật Bản.

Bức thư được gửi tới Quốc vương Nhật Bản, dịch ra tiếng Việt như sau:

“Hiệp mưu tán lý công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Tổng thái giám, Chưởng (thượng) cung môn thừa chế sự Văn Lý hầu nước An Nam chuyển thư đến ngài Thị trưởng thương nhân Nhật Bản là Bích Sơn bá. Khi về bản quốc được biết ngày nọ tháng 6 năm trước, việc buôn bán trao đổi tiền tệ với An Nam đã xong xuôi. Nay về đến cửa Đan Nhai ở ngoài biển thì bỗng nhiên bị sóng nổi lên đánh cho tan tác, khiến 105 người ở bản xứ phải sống trôi nổi.

Ngài đô đường quan, Quận công, Chưởng giám Văn Lý hầu và Phò mã Quảng thường hầu có ý làm việc công đức, thương xót thương nhân ở viễn quốc, thương tình họ đói khát nên đã lấy gia sản cấp dưỡng nuôi sống toàn bộ số người trên tàu. Rồi lại cho điều họ đến kinh để bái kiến chúa thượng. Chúa thượng rộng đức có lòng từ tâm nên ban sắc chỉ lệnh cho bọn họ được trở về bản quốc, ý đó thật là may mắn vậy. Nay các quan đô đường cùng chấp thuận cho làm thuyền lớn một chiếc rồi lại ban cho chức tước trở về bản quốc để bày tỏ cái nghĩa tình được hưởng tiếng thơm để cho toàn vẹn cái ân đức. Vì vậy, nay chuyển thư đến.

Hoằng Định, năm thứ 11 tháng 2 ngày 25 (tức ngày 25 tháng 2 năm 1611 đời vua Lê Kính Tông)”.

Qua bức thư cổ cũng cho ta biết, Văn Lý hầu Trần Tịnh là một hoạn quan làm đến chức Tổng thái giám phụ trách ngoại thương với người nước ngoài trong đó có Nhật Bản.

Bức thư cũng đã khẳng định và cho thấy tình thương người rộng lớn của các vị quan lại trong đó có Trần Tịnh và chúa Trịnh đầu thế kỷ XVII đã thúc đẩy họ không quản khó khăn, ngần ngại ra tay giúp đỡ những người gặp nạn, bất kể đó là người quốc gia nào. Từ đó, làm tăng uy tín quốc gia, tạo ra sức lan tỏa rộng lớn đến các nước làm ăn buôn bán với Việt Nam.

HT

Phố Nguyễn Khoa Dục ở Hải Phòng

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình với những nhân vật lịch sử như Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Khoa Đăng, Nguyễn Khoa Thuyên, Nguyễn Khoa Minh, Nguyễn Khoa Dục, Nguyễn Khoa Luận… đã có nhiều đóng góp to lớn đối với công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.

alt

Theo gương sáng của các bậc tiền nhân, con cháu của dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình đều gìn giữ gia phong, quý trọng học thức, văn hóa, có nhiều đóng góp cho gia đình và xã hội. Nhiều người có tên tuổi trong phong trào chấn hưng Phật giáo, có vị là Tế tửu Quốc Tử giám, là nhà thơ tài danh trong các thi xã, họa sĩ vẽ tranh sơn dầu đầu tiên của hội họa hiện đại Việt Nam, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà văn, nhà giáo, thầy thuốc, nhà quân sự, nhà báo, chính khách…Nhiều tên tuổi của dòng họ được đặt làm tên đường phố như Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Khoa Đăng, Thảo Am Nguyễn Khoa Vy, Đạm Phương, Hải Triều… Gia phả dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình ghi rõ: ngôi mộ tổ của dòng họ mà dân làng Trạm Bạc, xã Lê Lợi, huyện An Dương; quen gọi là mộ ông Nghè- chính là thân sinh của cụ Nguyễn Đình Thân, thủy tổ của dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình ngày nay. Khuôn viên ngôi mộ tổ của dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình có tổng diện tích khoảng 1200m2 với niên đại khoảng gần 500 năm. Đây là ngôi mộ thiên táng, chỉ đắp bồi đất thêm, không cải táng. Ông Nghè- Ngài tị tổ của dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình là con dân của làng Trạm Bạc. Ngài thuộc những thế hệ có công khai khẩn, lập nên làng Trạm Bạc ngày nay, cùng dân làng trải qua những năm tháng thăng trầm của lịch sử dưới thời Lê- Mạc.

Đến năm 1852, ông Nguyễn Khoa Dục, người cháu đời thứ 9 trở về làng Trạm Bạc tổ chức xây cất, đặt bia trang trọng để mộ Ngài tị tổ được lưu giữ đến ngày nay. Trong thời gian này, ông Nguyễn Khoa Dục giúp làng Trạm Bạc xây đình làng và quy tụ người dân trở về quê hương. Hằng năm, theo tục lệ, người dân làng Trạm Bạc đều mang kiệu, hương án, cờ lọng ra tận mộ thắp hương, rước Ngài tị tổ vào đình chủ trì tế lễ. Như vậy, ngoài việc ông Nguyễn Khoa Dục được người dân Trạm Bạc thờ làm thành hoàng làng thì Ngài tị tổ cũng được tôn vinh là phúc thần của làng. Mộ Ngài tị tổ không chỉ là công trình tâm linh gắn với 2 chi họ là Nguyễn Khoa ở Huế và Nguyễn Đình ở Hải Phòng mà sự tồn tại của ngôi mộ qua gần 5 thế kỷ được xếp vào loại di tích mộ phần hiếm có ở nước ta… Tuy nhiên, vì sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương nói riêng, thành phố nói chung, thế hệ con cháu dòng họ Nguyễn Khoa- Nguyễn Đình nhất trí di chuyển ngôi mộ tổ nằm trong vị trí dây chuyền sản xuất của Tập đoàn LG thuộc Khu công nghiệp Tràng Duệ, xã Lê Lợi, huyện An Dương về vị trí mới, tạo điện kiện thuận lợi cho việc triển khai dự án. Nơi yên nghỉ mới của Ngài tị tổ được tọa lạc trong quần thể đình Trạm Bạc giữa cánh đồng làng, được bao bọc bởi một bên là xóm làng trù phú, ấm áp, một bên là dãy núi Voi xanh ngát, hùng vĩ. Tại Hải Phòng, mới đây, HĐND thành phố thống nhất đặt tên một đường phố thuộc quận Hải An là Nguyễn Khoa Dục.

MT

Trao đổi tìm hiểu về địa danh “Bến Bính” tại TP Hải Phòng

Địa danh “Bến Bính” ở thành phố Hải Phòng xuất hiện ở khu nhượng địa ban đầu theo Hòa ước Giáp Tuất năm 1874 do thực dân Pháp quản lý. Do vậy phố Bến Bính và bến đò Bính nằm trong khu nhượng địa mở rộng đợt đầu.

alt

Suốt những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khu nhượng địa đường phố nhà cửa hình thành nhanh chóng, phố Bến Bính là con đường ven sông Cấm cùng bến đò Bính với bao câu chuyện lịch sử. Bến Bính đi vào thơ, vào câu hát: “Những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên...”; Bến Bính là cái cớ cho Nhà văn Nguyên Hồng đặt tên nhân vật chính của tiểu thuyết “Bỉ Vỏ” nổi tiếng với cái tên “Tám Bính”.

alt

Bến Bính là nơi có bến tàu thủy đi Cát Hải, Cát Bà, Quảng Ninh, Bắc Giang... Hòa bình lập lại năm 1955, nơi đây xây dựng bể bơi Bến Bính vào loại hiện đại ở Đông Nam Á lúc đó. Nhà khách Bến Bính do Pháp xây dựng theo lối biệt thự, có vườn cây rộng bao quanh, thời Pháp có tên là Maison de France, nay là nhà khách UBND thành phố Hải Phòng.

alt

Thời gian tới, nơi đây có cầu Hoàng Văn Thụ bắc qua nối huyện Thủy Nguyên với nội thành Hải Phòng. Địa danh “Bến Bính” sẽ được qui hoạch, xây dựng khang trang đẹp đẽ phục vụ du khách và người dân Đất Cảng.

MT

Phố Đinh Nhu ở Hải Phòng

Đinh Nhu (1910 - 1945) là một nhạc sĩ người Việt Nam, tác giả bài Cùng nhau đi Hồng binh, nhạc phẩm được coi là bài hát đầu tiên của tân nhạc cách mạng Việt Nam

alt

Đinh Nhu sinh năm 1910 trong một gia đình nghèo sống bằng nghề bán hoa. Từ khi còn là học sinh tiểu học, trung học ở Hải Phòng, Đinh Nhu đã say mê sân khấu, âm nhạc. Vì hoàn cảnh gia đình nên ông phải xin thôi học và bắt đầu hoạt động cách mạng. Năm 1927 Đinh Nhu tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Đến cuối 1929 ông bị Pháp bắt và giam tại Hỏa Lò, Hà Nội, sau đó bị kết án chung thân đày ra Côn Đảo. Thời gian ở trong tù ông dạy hát cho các tù nhân khác và bài Cùng nhau đi Hồng binh ra đời thời kỳ đó, năm 1930. Bài hát này lấy cảm hứng từ những cuộc đấu tranh chống Pháp sôi nổi những năm 1930, đặc biệt là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Cùng nhau đi Hồng binh còn được một số nhà nghiên cứu coi là bài hát đầu tiên của tân nhạc Việt Nam (nếu không tính bài Dạ cổ hoài lang còn mang âm hưởng ngũ cung của nhạc cổ, sáng tác trước đó). Theo Trần Quang Hải, Đinh Nhu viết Cùng nhau đi Hồng binh trong tù vào năm 1930 để kêu gọi dân chúng nổi lên chống Pháp, dựa trên thang âm ngũ cung (Do, Re, Fa, Sol, La, Do). Trước đó, Đinh Nhu có đặt lời Việt cho một vài ca khúc nước ngoài như La Marseillaise (Bài ca kêu gọi vô sản làm cách mạng)La Madelon.

Tại nhà tù Côn Đảo, Đinh Nhu (với số tù 3641) bị giam cùng với những Nguyễn Văn Cừ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Văn Linh... Do khéo tay nên ông được giao nhiệm vụ chép tài liệu, sách báo cách mạng để lưu truyền trong tù, cho những tù nhân khác đọc. Thời gian ở tù đó Đinh Nhu cũng sáng tác một vài ca khúc khác.

Năm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân Pháp giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội, đứng ra thành lập chính phủ, đã thi hành một số quyền tự do dân chủ ở thuộc địa, ân xá tù chính trị. Dịp đó, Đinh Nhu được tha trở về Hải Phòng và tiếp tục hoạt động cách mạng. Được một thời gian, ông cùng em trai là Đinh Hoạt lại bị bắt và đưa về giam ở căng Bắc Mê, rồi chuyển đến cảng Nghĩa Lộ.

Nhân sự kiện Nhật đảo chính Pháp đêm 9 tháng 3 năm 1945, những tù nhân trong nhà tù Nghĩa Lộ nổi dậy nhưng bị đàn áp. Một số chết, Đinh Nhu cùng Nguyễn Văn Bẩy, Vi Phùng... bị đem ra xử bắn ngày 17 tháng 3.

Tên của Đinh Nhu được đặt cho một đường phố ở Hải Phòng.

MT

Trao đổi tìm hiểu về cây thị 800 tuổi ở làng Tri Yếu

Theo thần phả còn lưu lại thì thôn Nhất Trí, làng Tri Yếu, xã Đặng Cương, huyện An Dương, TP Hải Phòng thời Hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ Vương) có tên ấp là Quần Anh.

alt

Họ Trần Hữu là một trong bốn dòng họ đến lập ấp sinh sống tại đây. Cả bốn dòng họ đều lập từ đường thờ các cụ thủy tổ dòng họ mình. Ở bốn từ đường các cụ đều trồng cây thị làm kỷ niệm. Trải qua thăng trầm các từ đường bị tàn phá. Duy chỉ còn cây thị ở khu từ đường họ Trần Hữu là tồn tại đến ngày nay.

alt

Đối chiếu với các tư liệu lịch sử và bằng các biện pháp khoa học, các chuyên gia đã xác định cây Thị này có độ tuổi đời từ 800 đến 1000 năm. Cây cao hơn 30 m có 4 cành lớn tỏa về 4 hướng. Thân cây có chu vi hơn 1m. Tháng 3 âm lịch cây ra hoa trắng phau, đến mùa thu cây ra quả thơm ngát một vùng.

alt

Từ đường họ Trần Hữu thờ cụ Trần Lân- thân phụ của tướng quân Trần Rồng (Chàng Rồng). Cây thị hàng ngàn năm tuổi nằm ở phía tay phải từ đường, tháng ngày tỏa bóng mát rượi như bàn tay tổ tiên xòe rộng che chở cho con cháu. Cây thị 800 tuổi được công nhận là “Cây di sản quốc gia” vào năm 2017.

MT

Thăm gia đình cố Nhà văn Nguyên Hồng

Ngày 30/10/2018; đoàn văn nghệ sĩ Hải Phòng đã đến thăm gia đình cố Nhà văn Nguyên Hồng tại thôn Cầu Đen, xã Quang Tiến, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

alt

Cùng tham dự có các văn nghệ sĩ Hội VHNT tỉnh Bắc Giang; Gia đình các con của cố Nhà văn Nguyên Hồng; Đài PTTH Hải Phòng, báo Hải Phòng, tạp chí Cửa Biển, tạp chí Văn nghệ Bắc Giang truyền thông ghi hình đưa tin. Đoàn đã thắp hương trước ban thờ cố Nhà văn Nguyên Hồng- Chủ tịch đầu tiên của Hội VHNT Hải Phòng; Đoàn làm lễ dâng hương trước mộ Nhà văn Nguyên Hồng cạnh suối Cầu Đen- cách nhà 500m.

alt

Các văn nghệ sĩ Hải Phòng và Bắc Giang đã cùng các con của Nhà văn Nguyên Hồng ôn lại những kỷ niệm, hiện vật một thời khi Nhà văn Nguyên Hồng sống và viết tại thành phố Cảng Hải Phòng. Đây là hoạt động thiết thực ý nghĩa nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nhà văn Nguyên Hồng (5/11/1918- 5/11/2018). Chuyến thăm gia đình cố Nhà văn Nguyên Hồng đã để lại những ấn tượng sâu sắc và cảm động trong lòng người tham dự.

MT

Lê Triều tiến sĩ Phạm Đình Trọng- nhân vật lịch sử nổi tiếng Hải Phòng

Trong lịch sử nước ta có nhiều nhân vật nổi tiếng mà công trạng bị lãng quên hay đánh giá không đúng mức do nhận thức và quan điểm giai cấp từng thời kỳ. Phạm Đình Trọng là người nằm trong số đó. Sự đổi mới đã làm cho cách nhìn nhận khách quan hơn nên nhiều nhân vật lịch sử dần được đánh giá công bằng hơn.

alt

Ngày 24-1-2010, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Viện Sử học Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Hải Phòng đã phối hợp tổ chức “Hội thảo khoa học về thân thế và sự nghiệp của tiến sĩ Phạm Đình Trọng”. Các tham luận trong hội thảo của nhiều giáo sư, tiến sĩ đầu ngành lịch sử Việt Nam đã phân tích, đánh giá công minh về những đóng góp của Phạm Đình Trọng, khôi phục và tôn vinh tên tuổi vị danh tướng.

Phạm Đình Trọng sinh năm Giáp Ngọ ngày 22-2-1714, quê ở làng Khinh Dao, huyện Giáp Sơn, trấn Hải Dương trước đây, nay thuộc thôn Khinh Dao (Khinh Giao, Kinh Dao), xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Phạm Đình Trọng sinh ra trong một gia tộc nổi tiếng nho học và thành danh nên đã kế thừa, phát huy truyền thống gia đình. Ông vốn dòng dõi danh sĩ Phạm Sư Mạnh đời Trần, Phạm Gia Mô đời Hậu Lê, cao tổ là Phạm Chất Lượng làm đến chức Tả thị lang bộ Hộ, tước Hồng Nguyên hầu, tằng tổ là Phạm Huy Ánh làm đến chức Đô ngự sử hàm Thái tử Thiếu bảo, tước Yến Dực hầu; cha là Phạm Doãn Địch, Giám sinh Quốc tử giám làm đến chức Tri phủ phủ Thiệu Phong. Gia phả dòng họ Phạm ở Khinh Dao cho biết, Phạm Đình Trọng có 4 phu nhân: Chính thất họ Lưu hiệu là Trinh Tĩnh; thứ thất họ Đặng hiệu là Từ Dũ; thứ thất họ Lưu, hiệu là Từ Hoa; thứ thất họ Nguyễn, hiệu là Diệu Tín.

Tướng mạo khôi ngô, tư chất thông minh, lại được học sớm, từ bảy tuổi gia đình đã cho theo các thày nổi tiếng trong vùng, học võ, học văn nên  20 tuổi, ông thi đỗ Hương Cống. Khoa thi năm Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu (1739) ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ. Một năm sau, năm Cảnh Hưng thứ nhất (1740) ông được triều đình bổ nhiệm làm Hiệu thảo viện Hàn lâm. Phạm Đình Trọng là người văn võ song toàn đã nhiều lần tham gia hay chỉ huy các cuộc dẹp loạn khởi nghĩa nông dân.

Với những người chống lại triều đình Lê - Trịnh ông là kẻ đối địch, đàn áp khởi nghĩa nông dân nhưng với vua Lê, chúa Trịnh ông là công thần bậc nhất. Tuy vậy sử sách vẫn phải thừa nhận ông là một người văn võ toàn tài, một bậc quân tử, sống cương trực và thẳng thắn đúng với bản tính người xứ Đông. Sử gia phong kiến Phan Huy Chú bình phẩm về con người ông bằng những lời khen ngợi: “Ông sinh ra đã có vẻ khôi ngôi. Năm lên 8 tuổi học vỡ lòng, đã hiểu được luật thơ. Khi lớn, văn chương hùng hồn...Ông tài kiêm văn võ, làm bậc nguyên thần của nước, là danh tướng làng nho, công lao sự nghiệp kỳ vĩ, gần đây chưa thấy có”.

Trong nửa đầu thế kỷ 18, trước cảnh triều Lê suy vong, mục nát để họ Trịnh lấn át, nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình đã nổ ra ở Đàng ngoài. Cuộc khởi nghĩa có quy mô và  tạo được thanh thế nhất là cuộc khởi nghĩa của anh em Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển ở Hải Dương. Quan quân triều đình đi đánh dẹp nhiều lần, nhưng đều thất bại. Biết Phạm Đình Trọng là người mưu lược, văn võ song toàn, triều đình phong ông giữ chức Hiệp thống kiêm Phòng ngự sử và phái đi đánh dẹp quân khởi nghĩa. Với tài năng quân sự, không bao lâu, Phạm Đình Trọng bắt được Nguyễn Cừ. Ông được phong làm Hữu thị lang Bộ Công.

Nguyễn Tuyển mất, Nguyễn Hữu Cầu, con rể Nguyễn Tuyển, mang quân về mạn Đông Bắc, lấy vùng Vân Đồn, Cát Bà, Đồ Sơn... làm căn cứ, xưng là Đông Đạo thống quốc bảo dân Đại tương quân. Nguyễn Hữu Cầu là người nhanh nhẹn, quyền biến, có sức khỏe hơn người (dân gian ví ông như Hạng Võ của nước Nam). Có tài thao lược, Nguyễn Hữu Cầu đánh đâu thắng đó, uy thế lẫy lừng. Năm 1743 ông đánh bại quân Triều đình, giết chết Thủy đạo đốc binh Trịnh Bảng ở sông Cổ Trai ( Kiến Thụy bây giờ). Tiếp đó Nguyễn Hữu Cầu đánh lên Kinh Bắc. Trấn thủ và Đốc binh Kinh Bắc bấn loạn, bỏ cả ấn tin thoát thân. Nghĩa quân tiếp tục đánh tới Bắc Giang. Quân triều đình do Trương Khuông và Đinh Văn Giai phái tới thua to, chạy toán loạn... Trước thế lực của Nguyễn Hữu Cầu, chúa Trịnh lo sợ, liền phong Phạm Đình Trọng làm thống lĩnh Bình khẩu Đại tướng quân, chỉ huy quân Triều đình đi dẹp Nguyễn Hữu Cầu. Phạm Đình Trọng thật xứng là đối thủ của Nguyễn Hữu Cầu. Qua 6 năm chinh chiến cam go, cuối cùng cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu bị Phạm Đình Trọng dẹp tan. Sau chiến thắng này, Phạm Đình Trọng, lúc ấy mới 36 tuổi được thăng Thượng thư bộ Binh (tương tự chức Bộ trưởng bộ Quốc phòng ngày nay), hàm Thái bảo, tước Hải quận công, Dương võ Tuyên lực công thần, hưởng hoa lợi 12 xã và 150 mẫu lộc điền.

Những năm bọn phí quấy nhiễu vùng Đông Bắc, giáp giới giữa ta và Trung Quốc, trấn thủ xứ Quảng Yên của ta và quan quân Quảng Đông bên Tầu cũng bó tay, dẹp không nổi. Trước tình cảnh ấy, triều đình lại phái Phạm Đình Trọng đảm nhận tuần tiễu khu vực này. Không lâu sau, dưới sự chỉ huy của ông, đám phỉ bị xóa sổ, những tên cầm đầu bị bắt. Không chỉ dân Đông Bắc nước Nam được bình yên mà dân Quảng Đông của Tầu cũng không còn bị quấy nhiễu. Vua Minh mừng rỡ, liền sai người mang lụa, vàng bạc và mũ áo Thượng thư sang nước Nam ban cho Phạm Đình Trọng. Bởi vậy đời sau gọi ông là Lưỡng quốc Thượng thư.

Năm Tân Mùi (1751) Phạm Đình Trọng được phái đi trấn thủ Nghệ An, kiêm Đốc binh châu Bố Chính. Ông vừa trấn áp bọn đạo tặc trộm cướp, và tàn dư của Nguyễn Hữu Cầu, vừa thi hành chính sách đức trị, coi dân là gốc, thương quý dân như con nên vùng Nghệ An, Bố Chính dân an cư, lạc nghiệp, đời sống ấm no, an ninh, trật tự được giữ vững. Phạm Đình Trọng được nhân dân trong vùng kính trọng, quý mến.

Nhưng điều đó lại đẩy ông vào thảm họa. Do ghen ghét tài năng , đức độ của Phạm Đình Trọng và không thích những lời nói thẳng nói thật của ông, những kẻ bất tài, tiểu nhân, ghen ghét ông (đứng đầu là Đỗ Thế Giai) đã đem lời ghèm pha với chúa. Bọn này tâu với Trịnh Doanh rằng Phạm Đình Trọng gây thanh thế, uy đức lấn cả triều đình, âm mưu thoán nghịch. Chúa Trịnh mù quáng, lúc nào cũng nơm nớp lo mất quyền lực, mất quyền lợi liền ban rượu độc buộc ông phải tự tử. Trước đó nhiều bộ tướng từng khuyên ông chạy vào Nam với chúa Nguyễn, nhưng Phạm Đình Trọng không nghe, ông cả cười mà rằng, người quân tử không thờ hai Chúa. Sau đó ông vào thư phòng, quay mặt về phía Bắc, vái vọng vua Lê rồi uống rượu độc tự tử. Phạm Đình Trọng mất vào đêm trừ tịch năm Giáp Ngọ (1754) lúc mới 40 tuổi.

Âu đó cũng là bi kịch chung của những người tài thời xưa khi “thỏ hết thì chó săn bị giết”!

Ông mất, triều đình hối lỗi, vua Lê liền ban gấm vóc, tiền bạc và cho thuyền đưa linh cữu ông về quê, đồng thời cử nhiều quan, trong đó có quan thượng Nguyễn Nghiêm về Khinh Dao chọn đất an táng. Vua Lê ân hận viết mấy chữ viếng: “Dẹp loạn yên dân, giữ vững biên cảnh, yêu nước trung vua, danh tiết vẹn toàn”. Chúa Trịnh thì gửi ban câu đối: “Cái thế anh hùng kim cổ hiếm / Tài đức bền lâu cùng đất trời”. Người dân Quảng Bình, Nghệ An và làng Khinh Dao quê ông đều có đền, miếu thờ Phạm Đình Trọng tồn tại cho tới ngày nay.

Ở thôn Khinh Dao, xã An Hưng, huyện An Dương, Hải Phòng quê hương Phạm Đình Trọng có đình Khinh Dao thờ Phạm Đình Trọng và 6 vị thần thời Hùng Vương làm thành hoàng là một trong hơn 100 di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia của Thành phố. Đình là công trình tín ngưỡng mang đậm phong cách kiến trúc thế kỷ 18 với nhiều giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật kiến trúc, được xếp hạng di tích kiến trúc – nghệ thuật cấp quốc gia năm 2005. Tương truyền, khi chúa Trịnh dỡ cung thất cũ xây cung mới cho thiếp yêu chính Phạm Đình Trọng đã xin được mang các mảng kiến trúc, vật liệu bị tháo dỡ về quê hương Khinh Dao dựng lên ngôi đình làng.

Cùng với thời gian di tích này ngày càng xuốn cấp. Năm 2007, với tấm lòng tri ân tiền nhân, ngành Văn hóa-Thể thao-Du lịch Hải Phòng và nhân dân Khinh Dao được Nhà nước hỗ trợ hơn 11 tỷ đồng đã tiến hành trùng tu, tôn tạo khu di tích thờ phụng thành hoàng Phạm Đình Trọng và 6 vị thần thời Hùng Vương.

Giờ đây, đình Khinh Dao với phong cảnh đẹp, nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc giá trị trở thành một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn khách tham quan.

Phạm Văn Thi

Hoàng Giáp Lê Khắc Cẩn- danh nhân văn hóa, nhà thơ yêu nước của Hải Phòng

Lê Khắc Cẩn (có sách viết là Lê Khắc Cần) sinh năm Quý Tỵ (1833) tại làng Hạnh Thị, tổng Đại Phương Lang, huyện An Lão, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Đông Hạnh, xã An Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng) trong một gia tộc lớn. Năm mất của ông được tác giả sách Quốc triều khoa bảng lục là Cao Xuân Dục – một đại thần triều Nguyễn ghi là năm 1874. Theo đó cụ Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam (in năm 1962) và sách Các nhà khoa bảng Việt Nam do PGS. TS Ngô Đức Thọ chủ biên in năm 2006 đều ghi năm mất của Lê Khắc Cần là năm Giáp Tuất (1874).

alt
Đền thờ Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn

Các tài liệu địa phương quê hương Lê Khắc Cần thì cho năm ông mất là 1869 (36 tuổi) nhưng theo tôi ông không thể mất sớm như thế vì dựa vào các sáng tác văn học của Lê Khắc Cẩn còn lưu ở Viện Hán Nôm thì thấy ít nhất ông phải thọ tới 60 tuổi. Bằng chứng như sau:

Năm 1882, sau khi Tổng đốc thành Hà Nội là Hoàng Diệu tự sát để bảo toàn khí tiết trước quân xâm lược Pháp, Lê Khắc Cẩn có bài thơ “Chế đài Hoàng tướng công mộ tiền khốc” (Khóc trước mộ Tổng đốc Hoàng tướng công) - (bài dịch số 23 trong Hải Hạnh thi tập của ông). Nghĩa là Lê Khắc Cần còn sống sau cả năm 1874 mà Quốc triều khoa bảng lục ghi

Ngoài ra, ông Ngô Đăng Lợi, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Hải Phòng căn cứ vào chính các bài Khai bútHậu bạt trong Hải Hạnh thi tập của Lê Khắc Cần còn lưu lại được tại Viện Hán Nôm, tin rằng năm mất của Lê Khắc Cẩn là 1889. Trong cuốn “Thơ văn Lê Khắc Cẩn” của Nxb Hải Phòng ấn hành năm 2003, ông Ngô Đăng Lợi và Lê Trọng Yêm (hậu duệ đời thứ 4 của dòng họ Lê ở Hạnh Thị), đồng tác giả cuốn sách đã khẳng định như sau: “Nay đối chiếu các tác phẩm do chính Lê Khắc Cẩn viết, ghi rõ hoạt động từng năm và năm nào cũng có bài thơ khai bút để lại. Chúng tôi tin rằng Lê Khắc Cẩn sinh năm 1833 và mất năm 1889 (?)” (Lời mở đầu sách).

Tôi đã xem lại Hải Hạnh thi tập mà tác giả viện dẫn và thấy như sau:

Tết năm Kỷ sửu 1889 Lê Khắc Cần có bài thơ “Kỷ sửu mạnh xuân tam nhật thí bút” (Khai bút đầu xuân ngày mồng ba năm Kỷ Sửu) - bài dịch số 99 trong Hải Hạnh thi tập:

Nguyên Đán đệ tam triêu

Lập xuân tiền nhất nhật…

(Tạm dịch: Hôm nay là sáng mồng 3 tháng giêng Tết nguyên Đán, cũng là sáng trước tiết lập xuân một ngày)

Và đến ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Sửu 1889 Lê Khắc Cần dù mệt nhưng vẫn gượng duyệt sách Du sơn ký cho ông Thái Viên và đề bài hậu bạt với 4 câu thơ dịch như sau:

“Nghìn đồi muôn hốc giấy ghi hình,

Một bức họa đồ thật phân minh.

Thái Viên vẽ được màu non nước.

Có cả nguồn đào cửa động xinh!”

Cuối thu năm 1889 ông ốm nặng ở Hà Nội. Theo Hải Hạnh thi tập thì những bài thơ Lê Khắc Cần viết cho Diên Sơn và Thái Viên ông là những bài kết thúc tác phẩm của ông trong thời gian ông sống tại Hà Thành.

Tuy nhiên trong Hải Hạnh thi tập của Lê Khắc Cần còn có một bài thơ đề là Lục thập tự thuật (tự thuật 60 tuổi) – bài dịch số 36, chép trong chùm thơ làm năm 1882. Nếu người sao chép không lầm lẫn thì hoặc là Lê Khắc Cẩn sinh năm Quý Mùi 1823 (chứ không phải năm 1833 như các tài liệu khẳng định) thì đến năm 1882 ông mới 60 tuổi (1823 – 1882), hoặc là ông sinh năm 1833, mất năm Quý Tỵ (1893) vì đến năm này ông mới 60 tuổi (1833 – 1893) ? Hai câu đầu của bài “tự thuật 60 tuổi” được dịch xuôi như sau:

“Tuổi tác cứ đi từ từ, thế mà đã bắt đầu tròn một “lục giáp” rồi đó,

Đời mình xông pha gió bụi đã trải bao nhiêu năm”…

Theo tôi, người dịch thơ Hải Hạnh thi tập của Lê Khắc Cần ít có khả năng ghi sai năm sáng tác các tác phẩm của ông. Nếu năm 1822 ông 60 tuổi thì năm sinh của Lê Khắc Cẩn phải là 1823. Và nếu lời khẳng định của ông Ngô Đăng Lợi và Lê Trọng Yêm nói trên về năm mất của Lê Khắc Cẩn là có cơ sở thì Song nguyên Hoàng Giáp họ Lê phải thọ tới 66 tuổi (1823-1889). Đây là một vấn đề cùng với các giả thuyết khác cũng cần làm rõ trong tiểu sử Lê Khắc Cẩn. Mong rằng các nhà nghiên cứu góp thêm tiếng nói cùng bàn luận.

Trong lịch sử Việt Nam thời nhà Nguyễn, Lê Khắc Cần là tiến sĩ Hán học duy nhất người Hải Phòng. Cuộc đời, thân thế, sự nghiệp Lê Khắc Cẩn là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, thương dân, thanh liêm, chính trực. Ông còn nổi tiếng với tài văn chương mà sự nghiệp còn để lại với nhiều sáng tác: Văn chiếu biểu, văn sách, thơ, thư từ, câu đối.

Hiện viện Hán - Nôm còn lưu giữ nhiều tác phẩm của tiến sỹ Lê Khắc Cẩn như: Hải Hạnh văn phái, Hải Hạnh thi tập, Hải Hạnh thi tập văn và Miễn Trai văn tập…Ngoài ra ở thư viện Viện Hán-Nôm (Hà Nội) còn có cuốn “Song nguyên Lê phiên hầu thi văn” có lẽ cũng là các sáng tác của ông mà người đời sau sưu tầm biên soạn lại bởi tên sách phù hợp với học vụ, chức tước và họ của ông. Nội dung sách tập hợp các bài thơ, văn, đối trướng, thư từ, các bài biểu, tấu cần được giám định, biên khảo kỹ.

Với tài năng và đạo đức của Lê Khắc Cẩn, cùng những đóng góp cho nền văn học nước ta nửa sau thế kỷ 19, ngày 22-11-2003 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, một hội thảo khoa học về Lê Khắc Cẩn đã được tổ chức. Ông được suy tôn là danh nhân - nhà thơ yêu nước.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, Lê Khắc Cần nổi tiếng thông minh, chăm học. Thân phụ ông là Lê Tường Vân, thân mẫu là Đoàn Thị Tường. Tương truyền cha ông phải làm nghề đóng cối xay để lấy tiền nuôi con ăn học.

Ở quê ông, dòng họ Lê còn nhưng là chi thứ nên không hiểu mấy về ông. Duy ở làng Nãi Sơn huyện Kiến Thụy - quê vợ ông, một số bậc cao niên còn nhớ một số truyền ngôn về Lê Khắc Cẩn.

Trong bài văn bia đặt tại đền thờ Lê Khắc Cẩn tại thôn Đông Hạnh, xã An Thọ, huyện An Lão, Hải Phòng có câu thuật lại tính cách của Lê Khắc Cẩn như sau “Tín nghĩa với bạn bè thì tha thiết chân thành; hiếu kính thờ tiên nhân thì rụt rè cẩn trọng”. Xem những bài thơ mừng, tiễn, từ biệt, họa thơ bạn của ông thì thấy nhận định về ông là đúng, Lê Khắc Cẩn đối với bạn bè thì tình nghĩa, chân thành, đối với người thế hệ trước thì khiêm tốn, trân trọng.

Lại nữa: “Đối với tôn sư, ông thường thư từ qua lại vấn an thầy, lại có khi bàn về thế vận, lòng yêu kính trước sau không đổi. Khi ông ra làm quan, lúc ở Kinh, khi ở phủ, giữ lòng liêm trực, dốc sức mẫn cán. Lúc làm quan ở phủ Xuân Trường ông thi hành nền chính trị huệ dân (ban ơn huệ cho dân), khuyến khích nông nghiệp, tương trợ những người đói nghèo, bệnh tật, khiến dân trong vùng thảy được nhuần ân đức. Cho nên vua yêu, dân mến, đồng liêu kính trọng. Rong ruổi trên đường làm quan, thi hành chính sự, ông dốc hết tâm sức lao khổ, làm rạng tỏ đạo sáng của kẻ bề tôi, là tấm gương lớn của nhà Nho vậy. Lại thêm giao du rộng với giới quan chức và trí thức, luôn giữ tín với bạn bè”.

Lê Khắc Cần là người học rộng, đọc nhiều sách Bách gia chư tử, lại theo học Tiến sĩ, Đốc học Lê Hữu Tạo, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Văn chương Lê Khắc Cần “Tứ thơ thì tinh thuần, lời văn thì cao nhã”. Thầy học từng khen ông “Trong giống chim có chim phượng, trong loài cá có cá côn” để ví chí khí học trò mình.

Ông thi hương khoa Ất Mão 1855 đậu giải nguyên trường thi Nam Định. Thi hội khoa nhâm tuất 1862 tại Huế ông đỗ Hoàng giáp. Trong cả hai kỳ thi này Lê Khắc Cần đều đỗ đầu nên còn được gọi là Song nguyên Hoàng Giáp.

Mới ba mươi tuổi đỗ Hội nguyên, đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân đã là người thành đạt. Trong kỳ thi Đình ông đỗ thứ nhì. Bài văn phúc hạnh (sau khi thi Đình) của ông được vua Tự Đức khen giản dị mà cứng, đầy đủ, linh hoạt, không kém gì bài của người đỗ đầu là Đình nguyên Nguyễn Hữu Lập. Ông được vua Tự Đức yêu mến đổi tên là Lê Khắc Nghị, lại giữ làm việc ở những cơ quan gần vua như Viện Tập hiền, Tòa Kinh diên, sau đó mới chuyển đi làm tri phủ Xuân Trường, án sát rồi bố chính tỉnh Nam Định.

Năm Tự Đức thứ 19 (1866) ông được điều về Kinh đô Huế thăng Thị độc học sĩ, Tham biện nội các sự vụ. Các bài thơ văn Tự Đức làm ra phần nhiều đều sai đem đến cho Lê Khắc Nghị đọc thể hiện sự tin tưởng của Vua đối với ông.

Ông nổi tiếng thanh liêm, cương trực. Khi làm án sát Nam Định, thấy thế lực khách trú chèn lấn các nhà buôn Việt Nam, ông đã kiên quyết chống lại. Bọn này căm tức đã âm mưu đầu độc ông nhưng không thành. Tuy làm quan coi về hình án đầu tỉnh mà nhà ông thanh bạch. Có người muốn lợi dụng mẹ ông để biếu xén đút lót nhưng ông kiên quyết chối từ và luôn khuyên mẹ đề phòng bọn xấu.

Lê Khắc Cẩn chứng kiến gần trọn nửa sau thế kỷ XIX, thời kỳ đất nước gặp nhiều gian truân bởi thực dân Pháp xâm lấn. Cảnh triều đình ươn hèn trước sự lấn lướt của thực dân Pháp, sĩ phu yêu nước nổi lên chống giặc tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ, thái độ Lê Khắc Cẩn và thử thách nhân cách kẻ sĩ của ông. Trong các sáng tác của ông thường có những bài thơ thể hiện nỗi đau trước cảnh loạn li, lòng thương dân khốn khó trong chiến tranh cướp nước của thực dân xâm lược, sự khinh bỉ lũ “Tây Dương”,“Cẩu quốc”

Ông luôn đứng về phe chủ chiến chống xâm lược. Khi thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ, ông viết sớ xin tòng chinh, lời lẽ khẩn thiết thể hiện lòng yêu nước. Vua chấp nhận, ông vào mặt trận vùng Nam Ngãi tham gia chống giặc.

Tuy bận việc quan nhưng Lê Khắc Cẩn vẫn ham sáng tác văn thơ. Viện Hán Nôm hiện còn giữ được một số công trình văn học của ông là: Hải Hạnh văn phái (ký hiệu A.358), Hải Hạnh thi tập (ký hiệu A.466), Hải Hạnh văn tập (ký hiệu VHv.261), Hải Hạnh thi văn tập (ký hiệu VHv. 259) Miễn Trai văn tập. (Hải Hạnh và Miễn Trai là bút hiệu của Lê Khắc Cần)

Con trai của Lê Khắc Cẩn là Lê Mạnh Phổ kế thừa sự học và chí hướng của cha, thi đậu Hương tiến, được bổ làm Huấn đạo Đông Quan, làm dạng danh cho gia tộc.

Lê Khắc Cẩn qua đời không rõ là khi còn làm quan hay đã về hưu, nhưng khoảng những năm tám mươi của thế kỷ XIX ông sống ở vùng hồ Trúc Bạch, Hà Nội. Có truyền ngôn cho rằng ông chết vì bị ngầm đánh thuốc độc.

Mộ Lê Khắc Cẩn hiện táng ở Đồng Bún, Đỗ Xá, xã Nam Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Thể hiện sự tri ân của Thành phố và quê hương đối với ông, tháng 3-2008, UBND TP Hải Phòng đã có quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng đền thờ tiến sỹ- nhà thơ Lê Khắc Cẩn ngay tại quê hương ông- thôn Đông Hạnh, xã An Thọ, huyện An Lão, Hải Phòng. Với sự đầu tư của chính quyền thành phố Hải Phòng và sự đóng góp to lớn từ nguồn xã hội hóa, ngày 3 tháng 10 năm 2010 nhà thờ tiến sĩ, nhà thơ yêu nước Nguyễn Khắc Cẩn đã khánh thành. Công trình hoàn thành to, đẹp với tổng kinh phí xây dựng 27,5 tỷ đồng, vượt gấp hơn hai lần dự toán ban đầu và được hoàn thành sớm hơn dự tính 1 năm.

Công trình gồm các hạng mục: đền thờ chính 174 m2, tả hữu giải vũ 173 m2, hai nhà bia 10 m2, tam quan 13,4 m2, hồ sen… trên tổng diện tích 11.514 m2. Đền thờ là công trình mô phỏng kiến trúc thời nhà Nguyễn, đền chính đặt trên bệ cao 1,35 m, khung nhà cột lim theo kết cấu giá chiêng - chồng rường - con bẩy - chồng đấu sen chạm hoa văn. Nền lát gạch bát, hệ mái hai tầng, cửa đi kiểu “thượng song hạ bản”, cửa sổ kiểu chữ “vạn”… đều bằng gỗ lim. Công trình này thể hiện tấm lòng của nhân dân và chính quyền thành phố Hải Phòng đối với người con đã làm vẻ vang cho quê hương và giờ đây đang trở thành một địa điểm du lịch văn hóa của Hải Phòng.

Phạm Văn Thi

Trao đổi tìm hiểu về chùa Hàn Sơn Tự ở Phong Kiều

Hàn Sơn Tự (寒山寺 - Hán shān sì) là ngôi chùa cổ nằm ở phía tây của trấn Phong Kiều, Tô Châu. Chùa được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ VI, trong niên hiệu Thiên Giám (502-519) thời vua Lương Vũ Đế nhà Lương với tên gọi ban đầu là Diệu Lợi Phổ Minh Tháp viện. Trong loạn Thái Bình Thiên Quốc chùa bị phá hủy và được xây lại năm 1905. Đến khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-649) thời Đường Thái Tông, tên gọi Hàn Sơn mới được đặt, nhằm tưởng nhớ đến nhà sư trụ trì nơi đây. Sau những thăng trầm, Hàn Sơn tự đã được các triều từ Tống tới Thanh gìn giữ, tu bổ cho đến ngày nay.

alt

Tượng Hàn Sơn và Thập Đắc trong chùa Hàn Sơn

Việc đặt tên chùa Hàn Sơn liên quan đến chuyện kể về hai người bạn kết nghĩa anh em có tên là Hàn Sơn và Thập Đắc. Chuyện kể rằng, ngày xưa ở miền quê nọ, có 2 chàng trai tên là Hàn Sơn và Thập Đắc, họ thân thiết và sống với nhau trong tình nghĩa anh em. Khi gia đình đi hỏi vợ cho mình, Hàn Sơn mới biết rằng cô dâu tương lai ấy chính là người yêu của Thập Đắc. Vì sợ buồn lòng em vì vậy, chàng đã lặng lẽ bỏ nhà ra đi và dừng chân ở một ngôi chùa nhỏ. Về phần Thập Đắc, nghĩ rằng vì mình mà Hàn Sơn ra đi nên cũng quyết đi tìm anh. Cuối cùng, như duyên trời định, họ lại gặp nhau tại chính ngôi chùa nơi Hàn Sơn ẩn mình. Họ lại sống cùng nhau như huynh - đệ ngày nào. Cảm động vì câu chuyện trên vì vậy, tên gọi Hàn Sơn đã được đặt cho ngôi chùa để tưởng nhớ.

Bến Cô Tô

Còn có truyền thuyết kể rằng - Hàn Sơn là một bần sĩ sống trang hang núi đá Thiên Thai, chỗ ở của Tế Điên Hòa Thượng ở. Trên núi có chùa Quốc Thanh nổi tiếng, bấy giờ do thiền sư Phong Can trụ trì. Hàn Sơn hay lui tới ngôi chùa này, giao du với Thập Đắc. Thập Đắc cũng không khá gi hơn – là một đứa trẻ bị bỏ rơi, được Phong Cam lươm đem về chùa mà nuôi nấng. Thập Đắc quý Hàn Sơn, hay gom góp thức ăn, đựng trong một ống tre, cho Hàn Sơn mang đi. Thế nhưng Hàn Sơn không biết thân phận, đã không cảm ơn chùa mà còn chửi đời. Sách Tống cao tăng truyện viết "Hàn Sơn đi trong hành lang chùa, chốc chốc lại kêu gào chửi bới lăng mạ mọi người hoặc ngẩng mặt lên trời mà chửi đổng. Các bị trong chùa không chịu nổi vác gập đuổi thì Hàn Sơn lăn lộn, vỗ tay cười hà hà rồi bỏ đi. Quần áo rách bươm, mặt mũi hốc hác, đầu đội mũ bằng vỏ cây hoa, chân kéo lê đôi guốc mộc. Hàn Sơn và Thập Đắc thường bá cổ bá vai đi chơi với nhau và thường lui tới chùa Hàn Sơn hiện nay ở Tô Châu. Ngày nọ co vị quan là Lư Khâu Dẫn đến hỏi Phong Can, ở đây ai là người hiền. Phong Can là một thiền sư đắc đạo, cảm hóa được cả cọp, đáp: Có Hàn Sơn tức Văn Thù, Thập Đắc tức Phổ Hiền, dáng dấp của một người nghèo, điệu bộ như người cuồng. Lư Khân Dẫn đến chùa gặp hai vị đó liền cúi lạy vái chào, các vị sư khác kinh ngạc hỏi: "Ngài là quan to sao lại cúi chào kẻ cuồng phu". Hàn Sơn – Thập Đắc cười hà hà rồi nói: Phong Can lắm chuyện - rồi bỏ đi. Về sau, Lư Câu Dẫn đến tìm Hàn Sơn chỉ la lớn "Các người hãy cố gắng " rồi biến mất để lại cho chùa nhiều thơ ca. Còn Thập Đắc thì bỏ đi đâu không biết. Ngày nay hậu thế còn lại Hàn Sơn thi tập do Lưu Khâu Dẫn đề tựa và Đạo Kiều ghi chép, phụ thêm cả thơ của Thập Đắc và Phong Can, gồm hơn 300 bài, gọi chung là Tam Ẩn Tập. Sauk hi Hàn Sơn biến mất rồi thì chùa ở thì chùa ở Tô Châu mang tên Hàn Sơn để nhớ đến vị cuồng sĩ này. Trong chùa còn có tranh tượng của Hàn Sơn và Thập Đắc.

Thơ ca liên quan đến Hàn sơn tự

Không chỉ thu hút du khách bằng những câu chuyện kể, Hàn Sơn tự còn là nguồn cảm hứng vô tận của bao lớp thi nhân. Trong cảnh tình miền sông nước Giang Nam, Trương Kế đã viết nên những vần thơ Đường bất hủ, gói tròn trong Phong Kiều Dạ Bạc về một đêm trăng tàn chợt ngân lên tiếng chuông đêm từ cổ tự Hàn Sơn.

Nguyên văn Hán tự

月落烏啼霜滿天,

江楓漁火對愁眠。

姑蘇城外寒山寺,

夜半鐘聲到客船。

Phiên âm

Yuè luò wū tí shuāng mǎn tiān,

Jiāng fēng yú huǒ duì chóu mián.

Gūsū chéngwài Hánshān Sì,

Yèbàn zhōngshēng dào kèchuán.

Bản dịch

"Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền".

Dịch thơ Lưu

"Trăng tà tiếng qụa kêu sương

Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San".

Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867)

Giá trị

Ngày nay, khi đến viếng Hàn Sơn tự du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng bức bích họa nổi tiếng mang tên "Hàn Sơn - Thập Đắc" được khắc trên đá của danh họa đời Thanh – La Sính Sở, thủ bút của thư pháp gia nổi danh Trương Xư Liêu - đời Tống qua bộ kinh Kim Cương hay khám phá Tàng Kinh các - nơi lưu trữ kinh thư nhà Phật. Ngoài ra, Hàn Sơn còn có hệ thống tượng Phật, Tôn hành giả, Thập bát La Hán, những bia đá ghi lại những vần thơ tuyệt tác của các thi nhân ở Trường lang và cũng không quên nhắc đến những chiếc chuông đã làm nên cái hồn cho Hàn Sơn tự, nhất là vào những đêm trừ tịch - khi 108 tiếng chuông ngân vang lên giữa đêm (cầu Phật Tổ ban phúc lành cho bá tánh), người ta mới cảm hết được cái thần và hồn của Phong Kiều Dạ bạc trên bến nước Cô Tô.

Hoàng Xuân Khóa (St)

Trao đổi tìm hiểu về tấm bia đá cụ Phan Bội Châu dựng ở Nhật Bản

Năm 1904 cụ Phan Bội Châu thành lập Duy Tân hội. Năm 1905 Phan Bội Châu cùng cộng sự sang Nhật, tiếp kiến với các nhân vật chủ chốt như Thủ tướng Inukai Tsuyoshi, Bá tước Okuma Shigenobu, nghị sĩ Kashiwara Bun… cụ Phan viết, xuất bản nhiều tác phẩm chuyển về Việt Nam có tác động lớn với sĩ phu trong nước như Hải ngoại huyết thư, Việt Nam sử khảo, Tân Việt Nam kỷ niệm lục... tạo một làn sóng thúc đẩy nhiều thanh niên yêu nước tham gia phong trào Đông Du, xuất ngoại học tập để tìm đường chống Pháp.

alt

Đến tháng 6/1908, số lưu học sinh Việt Nam hơn 200 người. Giữa lúc phong trào Đông Du đang phát triển mạnh mẽ thì bất ngờ Chính phủ Nhật Bản do bắt tay với Pháp đã ra lệnh trục xuất lưu học sinh Việt Nam ra khỏi Nhật Bản, thế là Đông Du tan rã. Trong lúc quẫn bách, cụ Phan được bác sĩ Asaba Sakitaro ủng hộ 1.700 Yên qui ra tiền bây giờ là hơn 20.000 USD để trang trải nợ nần nuôi các lưu học sinh. Ngày 8/3/1909, cụ Phan đến Kofutsu chào giã biệt ân nhân Asaba Sakitaro để rời Nhật Bản. Năm 1918 Phan Bội Châu trở lại Nhật, mới hay ân nhân Sakitaro qua đời vào ngày 25/9/1910 ở tuổi 43. Cụ Phan đã cùng người nhà bác sĩ Asaba lập bia tạ ơn trước mộ người trong khuôn viên chùa Jorinji ở thành phố Fukuroi, tỉnh Shizuoka. Bia cao 2,7m, ngang 0,87m, đặt trên bục đá cao hơn 1m, cụ Phan khắc 111 chữ. Người Nhật Bản và Việt Nam xem tấm bia này là di sản văn hóa, chứng tích về mối tình hữu nghị Việt-Nhật.

MT

Trao đổi tìm hiểu về Chùa Liên Hoa ở quận Kiến An, TP Hải Phòng

Chùa Liên Hoa có địa chỉ tại phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An, TP Hải Phòng. Đường vào Chùa Liên Hoa có hai lối; Lối thứ nhất đi từ đường Trần Thành Ngọ; Lối thứ hai đi từ đường Cổng Rồng.

alt

Chùa Liên Hoa lúc đầu chỉ là một am nhỏ. Trải qua bao thăng trầm và biến đổi của thời cuộc, các sư trong chùa không ngừng tu tập, làm kinh tế, để có nguồn kinh phí hoạt động trong các phong trào từ thiện và tích lũy để sửa sang lại chùa, tạo một bến đỗ tâm linh thật uy nghi, yên bình cho Phật tử cũng như những người có tâm hướng thiện.

0c56

Theo thời gian chùa từng được trùng tu, sửa chữa. Hiện, chùa đang xây mới ngôi Tam Bảo với kinh phí từ sự đóng góp của đông đảo tín đồ Phật tử, những nhà hảo tâm gần xa trong và ngoài nước, đáp ứng cho các hoạt động truyền thống hằng năm của chùa: Lễ Phật đản, lễ hội Hoa đăng, đại lễ Vu lan, Nguyên tiêu...

0c58

Chùa Liên Hoa với lối kiến trúc thuyền lâm Phật giáo, thể hiện sự khoan dung, độ lượng, luôn sẵn lòng cứu giúp chúng sinh.

MT

Trao đổi tìm hiểu về khu di tích Đền và Chùa Mõ

Đền và Chùa Mõ thuộc xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng; thờ Quỳnh Trân công chúa- người gắn bó sâu sắc với danh tướng Trần Khánh Dư.

alt

Năm Quí Mùi 1283, công chúa xin vua Trần Thánh Tông cho xuất gia qui y nơi cửa Phật; Bà chiêu mộ dân đến khai hoang lập ấp, rồi cùng dân xây dựng Chùa Mõ. Theo lời kể dân gian công chúa đặt hiệu lệnh bằng tiếng mõ để mọi người nghe đó mà nghỉ ngơi, ăn uống, đi làm... nên mọi người gọi công chúa là “Bà chúa Mõ”, rồi tụ tập trai tráng mở vật cầu trời cho mưa thuận gió hòa.

Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch, thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở kinh sư lập tháp an táng. Vua Trần Anh Tông ra sắc chỉ tặng phong Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc phong về lập đền thờ. Đền Mõ có từ đó và được lưu giữ đến ngày nay. Đền Mõ nằm trong khuôn viên có diện tích 12.000m2, bên cạnh đền là Chùa Mõ có cây gạo cổ thụ trên 700 năm, cành lá xum xuê tỏa bóng. Hàng năm lễ hội Đền và Chùa Mõ được tổ chức vào mồng 6 tháng Giêng.

MT

Những lá Phong đỏ mùa Thu đầu tiên ở Hà Nội

alt

Sau bao năm công phu di thực những cây,hoa tiêu biểu của đất nước Phù Tang kỷ niệm Tình hữu nghị Việt Nam-Nhật bản thiết lập năm 1973,mùa thu năm nay -2018,đúng tháng kỷ niệm lịch sử ấy,màu lá đỏ những cây Phong từ Đất nước Mặt Trời Mọc đầu tiên ở Thủ đô đã cho lửa lứa đầu đời.Trên bờ hồ Gươm,dọc đường Nguyễn Chí Thanh…và rải rác nhiều khu phố, màu lá Phong đang chuyển dần từ xanh sang màu đỏ.Và “Giấc mơ Kyoto”-địa danh nổi tiếng nhất về vẻ đẹp tuyệt vời của những rừng Phong cổ thụ bạt ngàn ở Nhật Bản, từng vương vấn khi thu sang hình như đã bớt vấn vương…

Xin mời bạn về Thủ Đô chiêm ngưỡng mùa lá Phong đỏ mùa thu đầu tiên ở Việt Nam!

Đinh Nhật Hạnh

Không gian mùa thu với Hanoi Ensemble & Những người bạn

Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam hân hạnh giới thiệu chương trình hòa nhạc sân vườn lần thứ 17 “Không gian mùa thu” với nhóm Hanoi Ensemble & Những người bạn tại Hà Nội vào 20h00 thứ Sáu ngày 19.10.2018.

alt

Hanoi Ensemble là một nhóm nhạc thính phòng do các nghệ sĩ và giảng viên trẻ của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam thành lập năm 2010. Họ đã từng tu nghiệp tại Việt Nam và các nhạc viện danh tiếng trên thế giới. Các thành viên của nhóm đã đạt được rất nhiều giải thưởng âm nhạc có uy tín trong nước và quốc tế. Nhóm đã tham gia nhiều chương trình hòa nhạc, liên hoan âm nhạc cũng như các chương trình giao lưu văn hóa trong và ngoài nước. Trong chương trình hòa nhạc lần này, Hanoi Ensemble sẽ biểu diễn với 2 nghệ sĩ Nhật Bản và Indonesia. Yasutake Yuta (kèn Bassoon) và Bagaskoro Byar Sumirat (kèn Oboe) hiện đang là thành viên, nghệ sĩ bè trưởng của Dàn nhạc giao hưởng Mặt trời tại Hà Nội.
Vé mời được phát (mỗi người nhiều nhất 2 vé):
Thời gian: từ 12h00 ngày thứ Sáu, 12.10.2018
Địa điểm: Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam
(27 Quang Trung, Hoàn Kiếm, Hà Nội)
[Giờ mở cửa hàng ngày] 09:30 – 18:00
Chuỗi hòa nhạc thính phòng ngoài trời của Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản sẽ diễn ra với mong muốn góp phần vào hoạt động âm nhạc đa dạng tại Hà Nội qua giới thiệu các tác phẩm của các nhà soạn nhạc Nhật Bản, Việt Nam và quốc tế, được biểu diễn bởi các nghệ sĩ danh tiếng.
Mọi thắc mắc về chương trình và đăng ký phỏng vấn nghệ sĩ, xin liên hệ:
Ms. Hương (máy lẻ: 106) / Mr. Kawai (máy lẻ: 109)
Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam
27 Quang Trung, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam. TEL 024-3944-7419

BTC

Tham quan chiêm bái Từ đường dòng họ Đoàn Nguyễn

Từ đường dòng họ Đoàn Nguyễn tại làng Hải An xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

0c23

Đây là nơi Nguyễn Du đã sống và viết từ năm 1786- 1796. Nguyễn Du làm rể và về nương náu ở đất Thái Bình khi còn rất trẻ, khi ấy cụ mới tập phong chân Thủ hiệu, một chức quan nhỏ ở ngành võ thì gặp sự cố năm 1786. Đó là năm Nguyễn Huệ ra Bắc Hà nêu danh phù Lê diệt Trịnh.

0c24

Quan lại trung thành với nhà Lê, nhiều người không muốn hợp tác với Tây Sơn. Nha lại và họ tộc chúa Trịnh phiêu bạt khắp nơi. Nguyễn Du phải về sống tại quê vợ làng Hải An xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình từ năm 1786 đến năm 1796.

0c25

Các nhà nghiên cứu gọi đây là thời gian "Thập tải phong trần- Mười năm gió bụi" của cuộc đời Nguyễn Du. Thời gian tới rất cần sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể Trung ương, Tỉnh, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp cùng nghiên cứu đầu tư xây dựng khu di tích văn hóa Nguyễn Du tại Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

MT

Các bài viết khác...

Video

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay153
mod_vvisit_counterHôm qua389
mod_vvisit_counterTất cả134551
Hiện có 14 khách Trực tuyến